"Mở khóa" về tài khoản, khơi thông dòng vốn ngoại chất lượng và dài hạn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong cuộc trao đổi với phóng viên, ông Huỳnh Duy Sang - Giám đốc Khối Thị trường tài chính Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) khẳng định, “nút thắt” lớn nhất trong khâu mở tài khoản thanh toán và tài khoản vốn gián tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài đã được tháo gỡ. Qua đó, thúc đẩy thanh khoản, tăng tính minh bạch dòng vốn và hỗ trợ tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán.
aa
Nâng hạng – Dấu mốc cho bước chuyển mình toàn diện, mở ra giai đoạn phát triển mới về chất

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên mới nổi thứ cấp “Dọn đường” đón dòng vốn mới khi thị trường nâng hạng

PV: Thưa ông, sau khi các quy định mới triển khai, những vướng mắc từng khiến việc mở tài khoản vốn gián tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài kéo dài hàng tháng đã được tháo gỡ như thế nào và ngân hàng ACB triển khai thực hiện ra sao?

Ông Huỳnh Duy Sang: So với trước đây, thủ tục mở tài khoản vốn đầu tư gián tiếp (IIA) cho nhà đầu tư nước ngoài hiện đã được rút gọn và minh bạch hơn nhiều. Trước kia, nhà đầu tư phải chuẩn bị hồ sơ hợp pháp hóa lãnh sự, gửi qua nhiều vòng xác minh, dẫn tới quy trình có thể kéo dài hàng tuần, thậm chí cả tháng.

Hiện với Thông tư số 03/2025/TT-NHNN ngày 29/4/2025 quy định về việc mở và sử dụng tài khoản bằng đồng Việt Nam (VND) để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Thông tư 03); Thông tư số 25/2025/TT-NHNN ngày 31/8/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2024/TT-NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Thông tư 25), quy định đã cho phép sử dụng bản dịch công chứng thay cho hợp pháp hóa lãnh sự.

Đồng thời, linh hoạt hơn trong khâu định danh, có thể xác minh qua tổ chức thứ ba hoặc ủy quyền cho tổ chức lưu ký toàn cầu (GC - Global Custodian bank). Nhờ vậy, thời gian mở tài khoản được rút ngắn đáng kể, tính khả thi cao hơn.

"Mở khóa" về tài khoản, khơi thông dòng vốn ngoại chất lượng và dài hạn

PV: Tác động của Thông tư 25 và Thông tư 03 trong việc tháo gỡ vướng mắc ở khâu mở tài khoản thanh toán và tài khoản vốn gián tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài giúp thúc đẩy thanh khoản và hỗ trợ cho thị trường chứng khoán ra sao, thưa ông?

Ông Huỳnh Duy Sang: Việc ban hành Thông tư 25 và Thông tư 03 không chỉ có ý nghĩa quan trọng, kịp thời trong tháo gỡ nút thắt lớn nhất lâu nay của nhà đầu tư nước ngoài trong khâu mở tài khoản thanh toán và tài khoản vốn gián tiếp, mà còn chuẩn hóa quy trình; đồng thời, nâng cao tính minh bạch trong quản lý luồng vốn.

Điều này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho nhà đầu tư mà còn tạo sự yên tâm về khung pháp lý, tăng sức hấp dẫn của thị trường vốn Việt Nam trong mắt dòng vốn ngoại. Đây là bước tiến quan trọng, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thị trường, thúc đẩy thanh khoản và đặc biệt hỗ trợ cho quyết định nâng hạng Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp của FTSE Russell công bố ngày 8/10/2025.

Từ góc độ ngân hàng lưu ký như ACB, chúng tôi đánh giá hai Thông tư này không chỉ tháo gỡ khó khăn trong vận hành mà còn mang lại niềm tin lớn cho nhà đầu tư quốc tế khi tiếp cận thị trường. Thời gian xử lý được rút ngắn, quy trình minh bạch hơn, đồng thời giảm thiểu sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng giữa các ngân hàng. Điều này tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tiến gần hơn tới chuẩn mực quốc tế về lưu ký và thanh toán.

"Mở khóa" về tài khoản, khơi thông dòng vốn ngoại chất lượng và dài hạn
Nguồn: Ngân hàng ACB.

PV: Theo ông, đâu là yếu tố then chốt để Việt Nam không chỉ “qua cửa” về thủ tục, mà còn thực sự hấp dẫn và giữ chân dòng vốn ngoại lâu dài?

Ông Huỳnh Duy Sang: Theo tôi, việc “qua cửa” về thủ tục là điều kiện cần, nhưng các yếu tố then chốt sau mới là điều kiện đủ để Việt Nam thực sự hấp dẫn và giữ chân dòng vốn ngoại lâu dài:

Thứ nhất, yếu tố then chốt là tính minh bạch và độ lớn của thị trường vốn. Nhà đầu tư quốc tế đặc biệt quan tâm đến khả năng tiếp cận thông tin minh bạch, cơ chế bảo vệ quyền lợi cổ đông cũng như sự nhất quán trong chính sách. Do đó, Việt Nam cần chú trọng phát triển hạ tầng giao dịch, hoàn thiện cơ chế thanh toán bù trừ; đồng thời, đa dạng hóa các sản phẩm đầu tư nhằm nâng cao thanh khoản và tăng sức hút đối với dòng vốn ngoại.

Thứ hai, duy trì đà tăng trưởng kinh tế ổn định và sự ổn định vĩ mô đóng vai trò quyết định. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động, việc duy trì tăng trưởng bền vững, chính sách tiền tệ linh hoạt cùng khả năng kiểm soát hiệu quả tỷ giá và lạm phát chính là những yếu tố then chốt khác để tạo niềm tin vững chắc cho nhà đầu tư.

Thứ ba, việc đưa mô hình Đối tác bù trừ trung tâm (CCP) vào vận hành trong thời gian tới, cùng với việc ngày càng triển khai rộng rãi, kiện toàn cơ chế giao dịch Non-Pre-funding (NPF) sẽ là bước đột phá quan trọng. Đây là điều kiện tiên quyết mà các tổ chức xếp hạng thị trường như FTSE Russell và sắp tới là MSCI kỳ vọng, nhằm tăng cường an toàn thanh toán, tiệm cận các thông lệ quốc tế, đồng thời cải thiện đáng kể trải nghiệm cho nhà đầu tư nước ngoài.

Tại ACB, chúng tôi tin rằng, khi Việt Nam sở hữu đồng thời khung pháp lý thuận lợi, môi trường minh bạch, hạ tầng hiện đại, thị trường không chỉ thu hút được dòng vốn ngắn hạn trước thềm nâng hạng, mà còn giữ chân thành công dòng vốn chất lượng, dài hạn từ các tổ chức quốc tế.

PV: Xin cảm ơn ông!

Trước thời khắc quan trọng khi FTSE Russell chính thức công bố việc nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp vào sáng sớm ngày 8/10, có thể thấy những nỗ lực bền bỉ và liên tục từ các cơ quan quản lý trong suốt thời gian qua. Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, cùng các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ, liên tục hoàn thiện khung khổ pháp lý và hạ tầng thị trường. Hàng loạt văn bản trọng yếu được ban hành, sửa đổi nhằm gỡ bỏ các rào cản, nâng dần tính minh bạch và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80