“Dọn đường” đón dòng vốn mới khi thị trường nâng hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong cuộc trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam nhận định, việc khối ngoại bán ròng thời gian qua không hẳn là tín hiệu tiêu cực, mà là bước “dọn đường” tự nhiên đón dòng vốn mới. Khi tỷ giá dự kiến ổn định hơn từ quý IV, cùng quyết định nâng hạng của FTSE Russell công bố sáng 8/10 và việc hoàn thiện hạ tầng giúp Việt Nam định vị sức hấp dẫn, đón dòng vốn dài hạn.
aa

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên mới nổi thứ cấp

Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước: Nâng hạng là cột mốc trên hành trình dài
Tái cấu trúc nhà đầu tư mở đường cho nâng hạng thị trường chứng khoán

PV: Theo ông, việc dòng vốn ngoại tiếp tục dịch chuyển cho thấy điều gì trong chiến lược đầu tư và mức độ kỳ vọng của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường Việt Nam?

Ông Nguyễn Thế Minh: Xu hướng bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài không phải mới xuất hiện trong năm nay, mà kéo dài suốt 3 năm liên tiếp từ năm 2023. Đặc biệt, năm 2024 và 2025 ghi nhận mức bán ròng lớn, với hơn 93.000 tỷ đồng trong năm 2024 và khoảng 106.000 tỷ đồng tính đến thời điểm nay trong năm 2025. Tỷ lệ sở hữu của khối ngoại tính theo vốn hóa giảm xuống dưới 15%.

Một trong những nguyên nhân quan trọng là chênh lệch lãi suất giữa USD và VND đảo chiều dương, điều chưa từng xảy ra trước năm 2023. Khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì mặt bằng lãi suất cao thời gian dài, trong khi Việt Nam chủ động nới lỏng chính sách tiền tệ và giữ lãi suất thấp, chênh lệch lãi suất USD - VND chuyển sang giai đoạn thử thách hơn.

"Khi chênh lệch lãi suất USD - VND dần ổn định trở lại trong quý IV và đầu năm tới, nhiều khả năng dòng vốn ngoại sẽ sớm quay lại thị trường, thay vì rút đi trong ngắn hạn" - ông Nguyễn Thế Minh.

Dù chỉ số DXY, đo lường sức mạnh của USD so với một rổ ngoại tệ mạnh, giảm gần 10% từ đầu năm 2025 đến nay, VND vẫn trượt giá khoảng 3 - 3,5%. Dù chênh lệch lãi suất thu hẹp gần đây, song Fed giảm lãi suất vẫn chần chừ, dè chừng nới lỏng chính sách tiền tệ. Đây là yếu tố cộng hưởng làm gia tăng xu hướng rút ròng dòng vốn ngoại trong dài hạn.

Cần phải nói thêm rằng, diễn biến này chủ yếu mang tính kỹ thuật trong quá trình cơ cấu danh mục, chứ không hoàn toàn phản ánh sự suy giảm niềm tin vào triển vọng dài hạn của thị trường.

Nhìn tổng thể, nền kinh tế Việt Nam vẫn thuộc nhóm tăng trưởng mạnh nhất khu vực, các cán cân vĩ mô được duy trì ổn định và trong tầm kiểm soát. Đây là yếu tố then chốt giúp củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

PV: Trong bối cảnh Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng, với hiệu lực dự kiến từ ngày 21/9/2026 và đợt rà soát giữa kỳ vào tháng 3/2026, theo ông, liệu dòng vốn ngoại có sớm quay trở lại khi quá trình cơ cấu danh mục dần hoàn tất và niềm tin vào thị trường được củng cố?

Ông Nguyễn Thế Minh: Có thể thấy, trong ngắn hạn, hoạt động rút ròng của khối ngoại đến từ hoạt động cơ cấu danh mục của các quỹ đầu tư trong quý III. Thực tế, từ đầu năm đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam tăng mạnh, với VN-Index tăng hơn 30% và nhóm VN30 ghi nhận mức tăng đáng kể. Đây cũng cơ hội để cho nhà đầu tư nước ngoài chốt lời, bán bớt vị thế và tái cơ cấu danh mục. Đây là nguyên nhân chính khiến hoạt động bán ròng của nhà đầu tư nước ngoài tăng đột biến trong tháng 8 - 9 vừa qua.

Cùng với đó, việc cơ cấu kỹ thuật trong quá trình nâng hạng thị trường theo quy định Rule 6.1 của FTSE Russell. Theo đó, khi một quốc gia được nâng hạng từ thị trường cận biên lên nhóm thị trường mới nổi, các quỹ đầu tư theo chỉ số “Frontier Market” buộc phải thoái toàn bộ danh mục, để sau đó tái đầu tư theo tỷ trọng mới được FTSE tính toán. Vì vậy, động thái bán ròng của khối ngoại có khả năng được xem là động thái cơ cấu lại danh mục đầu tư trước thời điểm nâng hạng của một thị trường.

“Dọn đường” đón dòng vốn mới khi thị trường nâng hạng

PV: Vậy đợt bán ròng hiện nay có thể được xem như bước “dọn đường” để mở room cho dòng vốn mới, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Minh: Thực tế, quá trình nâng hạng thị trường hiện nay dựa trên hai yếu tố chính. Thứ nhất là yếu tố kỹ thuật và hạ tầng thị trường, mà Việt Nam đã và đang triển khai đồng bộ. Bộ Tài chính cùng Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, nghị định và sửa đổi quy định nhằm đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật theo chuẩn các tổ chức xếp hạng quốc tế.

Thứ hai là tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, đây là tiêu chí còn cần tiếp tục hoàn thiện. Về tổng thể, Việt Nam hiện đáp ứng các yêu cầu của nhóm thị trường mới nổi hạng 2. Đây sẽ là cơ hội lớn để thu hút dòng vốn mới từ các quỹ đầu tư trước nay chưa thể rót vốn vào Việt Nam, do họ chỉ được phép đầu tư vào các quốc gia thuộc nhóm thị trường mới nổi. Trong khi hoạt động bán ròng vừa qua chủ yếu đến từ các dòng vốn cũ đã gắn bó lâu năm với thị trường Việt Nam. Đây chính là điểm ưu của đợt nâng hạng lần này.

Bên cạnh đó, dù việc nhà đầu tư nước ngoài bán ròng có thể tạo cảm giác tiêu cực, nhưng cần nhìn nhận rằng, hạn chế lớn của thị trường Việt Nam hiện là giới hạn room cho nhà đầu tư nước ngoài. Nếu tỷ lệ này quá thấp, ngay cả khi được nâng hạng, các quỹ mới muốn tham gia vào thị trường cũng khá bị giới hạn.

PV: Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh thu hút dòng vốn quốc tế thông qua nâng hạng thị trường chứng khoán và hướng tới xây dựng trung tâm tài chính tầm khu vực, làm thế nào để Việt Nam vừa giữ được sức hấp dẫn của thị trường mở cửa, vừa duy trì “hàng rào” an toàn, kiểm soát rửa tiền, thưa ông?

Ông Nguyễn Thế Minh: Rõ ràng, Việt Nam không muốn trở thành điểm trung chuyển của các dòng tiền bẩn, hay định danh là thị trường tài chính như vậy. Trên thế giới từng có nhiều quốc gia, thậm chí là trung tâm tài chính lớn bị các tổ chức quốc tế như WB hay IMF cảnh báo, vì xuất hiện dấu hiệu hợp thức hóa các dòng tiền có nguồn gốc bất hợp pháp qua hệ thống tài chính.

Nếu rơi vào danh sách này, trong tương lai, việc phát triển các thị trường tài chính rất khá vất vả và gặp khó trong việc huy động các nguồn vốn ưu đãi, vay nợ quốc tế, đặc biệt là ảnh hưởng tiêu cực đến xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Do đó, việc tăng cường phòng, chống rửa tiền là yêu cầu bắt buộc, nhất là khi Việt Nam đang định hướng phát triển trung tâm tài chính quốc tế. Đây là bài toán đòi hỏi sự cân bằng giữa mở cửa thị trường và kiểm soát rủi ro.

Nếu quá nới lỏng thu hút dòng vốn, nguy cơ các dòng tiền phi pháp chảy vào Việt Nam gia tăng. Bài học từ Singapore và Hồng Kông cho thấy điều đó. Chính sự cởi mở quá mức và thiếu kiểm soát chặt chẽ khiến thị trường này dần trở nên nhiễu động, rủi ro gia tăng và tính an toàn tài chính suy giảm. Hệ quả là thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nhiều dịch vụ tài chính không còn duy trì được sức phát triển như trước.

Những năm gần đây, nhiều quốc gia siết chặt hơn việc kiểm soát dòng vốn, giúp xây dựng môi trường tài chính an toàn, tạo niềm tin cho các tổ chức quốc tế.

Bài học này đáng để Việt Nam tham khảo, nếu quá dễ dãi trong việc mở cửa thu hút dòng vốn, ban đầu có thể mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng về lâu dài, nguy cơ bị liệt vào “danh sách đen” để dòng tiền rửa chảy qua sẽ là rủi ro lớn. Do vậy, Việt Nam cần duy trì sự cân bằng giữa việc tự do hóa dòng vốn và đảm bảo an toàn hệ thống, tránh nghiêng hẳn về một phía.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17752 18025 18601
CAD 18515 18792 19410
CHF 32601 32985 33633
CNY 0 3470 3830
EUR 29811 30083 31111
GBP 34376 34767 35704
HKD 0 3238 3441
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14935 15520
SGD 19993 20275 20801
THB 719 782 835
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80