Mục tiêu tín dụng trong tầm tay, ngân hàng tư nhân nhiều khả năng bứt phá 25 - 30%

(TBTCO) - Phân tích từ nhiều đơn vị cho thấy, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% trong năm 2025 là khả thi, khi nhu cầu vốn duy trì tích cực và kinh tế tiếp tục phục hồi, tạo điều kiện để hầu hết ngân hàng đạt kế hoạch. Đáng chú ý, một số ngân hàng tư nhân lớn có thể bứt phá với mức tăng trưởng 25 - 30% trong năm nay.
aa
Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025 Muốn bỏ trần tín dụng, ngân hàng phải chấp nhận kỷ luật thị trường Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Trong báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới công bố, nhóm phân tích của Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) đánh giá, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% của Chính phủ trong năm 2025 là khả thi, thậm chí có thể đạt 17 - 18% nếu nhu cầu vốn duy trì tích cực cùng với đà phục hồi của nền kinh tế.

"Một số ngân hàng thương mại cổ phần lớn như MB, VPBank và HDBank nhiều khả năng sẽ có tốc độ tăng trưởng vượt trội (25 - 30%) so với toàn ngành trong năm 2025" - S&I Ratings đánh giá.

Cũng theo nhóm phân tích, tín dụng tăng mạnh tiếp tục góp phần hỗ trợ tỷ lệ nợ xấu giảm, nhờ dư nợ mẫu số tăng. Tuy vậy, trong trung và dài hạn, tăng trưởng tín dụng cao có thể tạo áp lực lên chất lượng tài sản do nợ xấu thường có độ trễ hình thành.

Ba nhà băng được S&I Ratings đề cập đều là những đơn vị chủ động nhận trách nhiệm xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và nhận được một số ưu đãi như: giảm một nửa tỷ lệ dự trữ bắt buộc; nới rộng hạn mức tín dụng Ngân hàng Nhà nước cấp thêm và có điều kiện tận dụng quy mô, mạng lưới phân phối, tệp khách hàng sẵn có của đơn vị được chuyển giao bắt buộc.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 8/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 11,8% so với cuối năm 2024 và cao hơn 20,6% so với cùng kỳ. Trước đó, ngày 31/7, cơ quan này đã nới hạn mức tín dụng cho những ngân hàng đã giải ngân trên 80% hạn mức được cấp từ đầu năm 2025, qua đó tạo thêm dư địa cho tăng trưởng những tháng còn lại của năm.

Đánh giá về triển vọng tăng trưởng tín dụng cuối năm, báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, hầu hết ngân hàng có thể hoàn thành mục tiêu tín dụng, dù chịu áp lực biên lãi ròng (NIM) giảm.

Trong đó, những ngân hàng tập trung vào cho vay đầu tư công, doanh nghiệp nhỏ và vừa, duy trì được NIM và chất lượng tài sản ổn định, đồng thời có tốc độ huy động vốn mạnh mẽ sẽ có nhiều khả năng tiếp tục bứt phá về tăng trưởng tín dụng trong phần còn lại của năm.

Đơn cử, MBS nhận định, HDBank có thể đạt kế hoạch tăng trưởng tín dụng đầy tham vọng ở mức 32% trong năm 2025. Hay Vietcombank có thể đạt tăng trưởng tín dụng 15% nhờ tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy nhanh, mặt bằng lãi suất cho vay thấp cùng mục tiêu tăng trưởng GDP đầy tham vọng và thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Nhìn lại bức tranh nửa đầu năm, thống kê của S&I Ratings cho thấy, tín dụng toàn hệ thống đã tăng 9,9% so với đầu năm - mức cao nhất kể từ năm 2012, phản ánh đà mở rộng mạnh mẽ của hoạt động cho vay.

Mục tiêu tín dụng trong tầm tay, ngân hàng tư nhân nhiều khả năng bứt phá 25 - 30%
Nguồn: T.L.

Động lực chính đến từ nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, đặc biệt là các ngân hàng có thế mạnh cho vay doanh nghiệp như VPBank (tăng 18,7%), HDBank (tăng 15,3%), NamABank (tăng 14,7%), MSB (tăng 13,5%), SHB (tăng 12,9%) và MB (tăng 12,3%).

Ngược lại, tốc độ tăng trưởng tín dụng tại khối ngân hàng quốc doanh và một số ngân hàng bán lẻ khiêm tốn hơn: BIDV tăng 6,1%, Vietcombank tăng 7,3%, ACB tăng 9,2%, OCB tăng 8,8% và BVBank tăng 6,5%.

Xét theo lĩnh vực, tín dụng tăng đều ở các ngành sản xuất, xây dựng và thương mại - dịch vụ, trong đó dư nợ cho vay thương mại tăng mạnh tại MB (tăng 33.000 tỷ đồng), LPB (tăng 22.000 tỷ đồng) và VPBank (tăng 21.000 tỷ đồng).

Bên cạnh đó, theo S&I Ratings, tín dụng bất động sản và dịch vụ tài chính tăng đáng kể, với dư nợ cho vay chủ đầu tư bất động sản tại SHB tăng 41.000 tỷ đồng, Techcombank 40.000 tỷ đồng và MB 21.000 tỷ đồng.

Cho vay các công ty chứng khoán cũng tăng mạnh tại Nam A Bank (tăng 15.000 tỷ đồng), VPBank (tăng 13.000 tỷ đồng), VietBank (tăng 12.000 tỷ đồng) và VIB (tăng 11.000 tỷ đồng).

"Đáng chú ý, các ngân hàng đẩy mạnh cho vay bất động sản và chứng khoán cũng là những ngân hàng ghi nhận tăng trưởng tín dụng ấn tượng trong nửa đầu năm 2025" - S&I Ratings nhìn nhận./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30