Ngân hàng đua sản phẩm “lai” hút CASA, hấp dẫn nhưng tránh quên rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuộc đua thu hút tiền gửi không kỳ hạn (CASA) ngày càng sôi động với loạt sản phẩm “lai” giữa thanh toán, tiết kiệm, đầu tư và cả cho vay, mang lại vốn giá rẻ cho ngân hàng và lãi suất nhỉnh hơn cho khách hàng. Tuy nhiên, đằng sau lợi ích hấp dẫn là rủi ro pháp lý, bảo hiểm tiền gửi và thanh khoản cần được hiểu rõ.
aa

"Nóng" cuộc đua thu hút CASA

Cuộc đua giành CASA đang nóng lên với loạt sản phẩm “lai” giữa thanh toán, tiết kiệm, đầu tư và cả cho vay, điển hình như: "Siêu lợi suất" của VIB; "eKash" của VPBank; "Sinh lời tự động" của Techcombank; "ông lớn" BIDV cũng mới gia nhập với sản phẩm "Tài khoản đầu tư thông minh"...

Đơn cử, có ngân hàng triển khai sản phẩm theo hướng tiết kiệm tự động, cho phép khách hàng chuyển phần tiền nhàn rỗi từ tài khoản thanh toán sang gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất cao hơn. Khi số dư vượt ngưỡng kích hoạt mà khách hàng lựa chọn, có thể 10 triệu đồng với khách hàng thường, 50 triệu đồng với khách hàng cao cấp, phần tiền này sẽ được chuyển sang “Tài khoản đầu tư thông minh”.

Ngân hàng đua sản phẩm “lai” hút CASA, hấp dẫn nhưng tránh quên rủi ro
Nguồn: MBS

Bên cạnh đó, có ngân hàng triển khai sản phẩm theo hình thức khách hàng đồng ý ủy quyền cho ngân hàng tự động trích phần số dư vượt ngưỡng trong tài khoản thanh toán, dùng để thanh toán và mua chứng chỉ tiền gửi "Siêu lợi suất" hay chứng chỉ tiền gửi "Bảo Lộc".

Cùng với đó, cũng có nhà băng triển khai theo hình thức hợp đồng cho vay tài sản thông qua bên thứ ba, thường là công ty chứng khoán hoặc công ty hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến đầu tư/tài chính trong hệ sinh thái của ngân hàng mẹ. Theo đó, trong hợp đồng ký kết nêu rõ, số tiền cho vay là khoản mà khách hàng đồng ý để hệ thống của ngân hàng tự động chuyển sang tài khoản thanh toán của bên vay. Một khoản vay có thể được hình thành từ một hoặc nhiều lần chuyển tiền như vậy, tạo nên nghĩa vụ vay giữa hai bên.

Theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, thực tế, tiền gửi không kỳ hạn truyền thống chỉ có mức lãi suất rất thấp, tối đa 0,5%/năm, vì vậy, các ngân hàng thương mại tạo thêm sản phẩm tài chính mới, để đáp ứng nhu cầu mới hơn, với mức lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn thông thường.

"Quá trình này thường thông qua bên thứ ba và họ toàn quyền quản lý, sử dụng cũng như phân bổ nguồn tiền vào các tài sản sinh lời trong danh mục. Điểm thuận lợi là tài khoản của khách hàng không bị phong tỏa, người gửi có thể rút tiền bất kỳ lúc nào khi có nhu cầu và được hưởng mức lãi suất cao hơn" - ông Linh nhấn mạnh.

Khách hàng cần hiểu và chọn đúng khẩu vị rủi ro

"Sự chuyển dịch của các ngân hàng sang mô hình “app tài chính toàn diện” là xu hướng không thể đảo ngược. Tuy nhiên, người dùng cần nâng cao hiểu biết tài chính cá nhân, phân biệt giữa sản phẩm ngân hàng truyền thống và sản phẩm đầu tư tích hợp để lựa chọn phù hợp với khẩu vị rủi ro của mình".

Ông Lê Hoài Ân - chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng.

Khi phân bổ phần tiền gửi vào các tài sản có khả năng sinh lời cao hơn như chứng chỉ tiền gửi hoặc các công cụ đầu tư khác, tạo ra mức lợi nhuận bình quân cao hơn, ngân hàng mới có cơ sở để trả cho khách hàng mức lãi suất hấp dẫn hơn.

Cũng theo đánh giá của ông Lê Hoài Ân - chuyên gia nghiên cứu chiến lược ngân hàng, các ngân hàng hiện không chỉ cạnh tranh bằng lãi suất hay độ phủ mạng lưới chi nhánh, mà đang chuyển dần sang cuộc đua về trải nghiệm số và khai thác tối đa nguồn CASA. Một trong những cách thức nổi bật nhất chính là sản phẩm "sinh lời tự động".

Không thể "tô hồng" lợi nhuận mà bỏ qua rủi ro

Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích vẫn tồn tại không ít rủi ro. Trong các hợp đồng ký kết thường ghi rõ khách hàng cần xác nhận hiểu rõ và chấp nhận rủi ro khi tiến hành phân bố tài sản liên quan đến rủi ro thị trường, rủi ro lợi suất, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý.

Theo ông Lê Hoài Ân, các tính năng sinh lời tự động có triển khai thông qua đối tác thứ ba. Theo đó, ngân hàng kết nối với các quỹ đầu tư, công ty chứng khoán..., người dùng có thể trích số dư tài khoản để đầu tư linh hoạt vào chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp… "Các sản phẩm này có lợi thế tiện lợi, tỷ suất sinh lời tốt hơn tiết kiệm, nhưng đi kèm rủi ro thị trường. Người dùng cần hiểu rằng tiền không nằm trong hệ thống bảo hiểm tiền gửi, và lợi nhuận không đảm bảo" - ông Ân lưu ý.

Bên cạnh đó, các ngân hàng phát triển các sản phẩm quản lý thanh khoản ngắn hạn. Theo đó, một số ngân hàng áp dụng hình thức cho vay qua đêm từ tài khoản thanh toán sang công ty chứng khoán, cam kết trả lãi cố định như tiết kiệm có kỳ hạn. "Thoạt nhìn đây là công cụ “2 trong 1”, vừa linh hoạt, vừa sinh lời, nhưng người dùng cần lưu ý về bản chất, đây là hình thức đầu tư hoặc hợp đồng có điều kiện, chứ không phải là tiền gửi truyền thống" - vị chuyên gia này nhấn mạnh.

Vì vậy, ông Ân chỉ ra một số điểm người dùng cần cẩn trọng. Đó là luôn kiểm tra kỹ tên pháp lý của đối tượng nhận tiền để biết rõ là ngân hàng hay công ty đối tác; đồng thời, tìm hiểu rủi ro và tính thanh khoản của sản phẩm, rút tiền dễ không và lãi suất đảm bảo không. Bên cạnh đó, cần đọc kỹ thỏa thuận trong ứng dụng, đặc biệt phần ủy quyền và chuyển tiền tự động.

Cũng theo TS. Châu Đình Linh, rủi ro lớn khi ngân hàng ủy quyền cho bên thứ ba, nếu xảy ra sự cố trong hoạt động kinh doanh, bên thứ ba nắm chắc lợi thế pháp lý, trong khi khách hàng có thể chịu thiệt hại trực tiếp. "Còn ngân hàng chỉ đứng ra phối hợp, trách nhiệm pháp lý thuộc về bên thứ ba và sẽ trở nên phức tạp hơn" - ông Linh nói.

Thêm vào đó, nhiều sản phẩm dù tên gọi khác nhau, nhưng thực chất không nằm trong danh mục được bảo hiểm tiền gửi. Bởi các loại tài sản sinh lời không nằm trong diện bảo hiểm, hơn nữa còn tiềm ẩn rủi ro tài chính, vì vậy, khách hàng cần đọc kỹ điều khoản.

"Nói rằng rủi ro tiệm cận bằng 0 là không đúng. Khách hàng cần cân nhắc rõ ràng, có thật sự tự nguyện tham gia hay không, có chấp nhận khẩu vị rủi ro, tin tưởng vào thương hiệu của ngân hàng, vào công ty bên thứ ba, cũng như vào triển vọng của thị trường tài chính Việt Nam hay không. Còn chỉ nói về lợi nhuận mà bỏ qua rủi ro là không đúng" - ông Linh lưu ý.

Theo đó, vị chuyên gia này cho rằng, Ngân hàng Nhà nước cần nhìn nhận thấu đáo vấn đề này, cần định hướng về phân bổ tài sản của bên thứ ba và ban hành khung pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi của chủ tài khoản, nhất là với tiền gửi không kỳ hạn.

CASA lập kỷ lục mới, đóng góp lớn từ sản phẩm sinh lời tự động

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, các sản phẩm sinh lời tự động đã đóng góp đáng kể vào việc gia tăng tỷ lệ CASA. Đơn cử, Auto Earnings 2.0 của Techcombank đóng góp tới 12% tổng CASA, trong khi eKash giúp VPBank hút về hơn 1/3 lượng tiền gửi cá nhân. Xu hướng này cho thấy các ngân hàng sẽ tiếp tục khai thác sáng tạo, không chỉ để củng cố nền vốn giá rẻ, mà còn để giữ lợi thế cạnh tranh trong cuộc đua mở rộng tín dụng.

Thống kê từ chuyên gia Lê Hoài Ân cũng cho thấy, quy mô CASA toàn ngành đạt 2,6 triệu tỷ đồng, tăng 6,1% so với cuối năm 2024. Đây là mức tăng trưởng ấn tượng, đưa tỷ lệ CASA toàn ngành lên 21,8%, cao nhất từ trước đến nay. MBBank củng cố vị thế dẫn đầu với tỷ lệ 37,7%, tăng thêm 6 điểm phần trăm so với cuối năm 2024, còn Techcombank đạt 36,4%. Vietcombank ghi nhận CASA ở mức 35,5%.

Cũng theo nhóm phân tích MBS, những ngân hàng có tỷ lệ CASA cao, đặc biệt là các ngân hàng đã ghi nhận tăng trưởng huy động mạnh mẽ trong năm 2024 và nửa đầu năm 2025 ít chịu áp lực phải nâng lãi suất huy động để thu hút thêm vốn giai đoạn cuối năm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼150K 15,050 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼150K 15,000 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼150K 16,050 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼150K 16,000 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼150K 15,980 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,390 ▼150K 16,090 ▼150K
Trang sức 99.99 15,400 ▼150K 16,100 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼2K 16,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼2K 16,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼18K 1,615 ▼18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼18K 1,616 ▼18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼18K 160 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼1782K 158,416 ▼1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼1350K 120,162 ▼1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼1224K 108,961 ▼1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼81072K 9,776 ▼89082K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼1050K 93,439 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼750K 66,877 ▼750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1454K 162 ▼1476K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cập nhật: 20/05/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18168 18444 19016
CAD 18629 18906 19523
CHF 32715 33100 33743
CNY 0 3829 3921
EUR 29937 30209 31236
GBP 34489 34881 35814
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15035 15619
SGD 20018 20301 20822
THB 720 784 837
USD (1,2) 26098 0 0
USD (5,10,20) 26140 0 0
USD (50,100) 26168 26188 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,151 26,151 26,391
USD(1-2-5) 25,105 - -
USD(10-20) 25,105 - -
EUR 30,030 30,054 31,321
JPY 161.1 161.39 170.19
GBP 34,623 34,717 35,724
AUD 18,345 18,411 19,005
CAD 18,784 18,844 19,435
CHF 32,939 33,041 33,837
SGD 20,109 20,172 20,854
CNY - 3,791 3,915
HKD 3,295 3,305 3,424
KRW 16.07 16.76 18.14
THB 767.13 776.6 827.76
NZD 15,002 15,141 15,503
SEK - 2,750 2,833
DKK - 4,019 4,138
NOK - 2,789 2,873
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,183.51 - 6,941.47
TWD 750.36 - 904.13
SAR - 6,899.77 7,228.26
KWD - 83,539 88,407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18356 18456 19379
CAD 18811 18911 19927
CHF 32961 32991 34574
CNY 3809.5 3834.5 3969.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30119 30149 31875
GBP 34788 34838 36607
HKD 0 3355 0
JPY 162.36 162.86 173.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20174 20304 21036
THB 0 749.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,391
USD20 26,185 26,235 26,391
USD1 23,879 26,235 26,391
AUD 18,391 18,491 19,608
EUR 30,264 30,264 31,687
CAD 18,753 18,853 20,167
SGD 20,245 20,395 21,320
JPY 162.69 164.19 168.78
GBP 34,668 35,018 36,160
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80