Sóng tăng lãi suất thử thách ngành ngân hàng năm 2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026 được dự báo là giai đoạn thách thức hơn với ngành ngân hàng với ba "lực cản", trong đó, nền lãi suất huy động đang tăng trở lại. Dù thanh khoản căng khiến lãi suất cho vay đã tăng 2 - 3% và lãi suất huy động dự kiến tăng thêm 1 - 1,5%, diễn biến này không chỉ mang lại rủi ro, mà cũng tạo ra những hiệu ứng tích cực đối với dòng vốn và sự ổn định của hệ thống.
aa
Tín dụng áp sát 18%, huy động chậm nhịp, đẩy áp lực lãi suất dồn về cuối năm Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9% Tăng trưởng tín dụng 2026: Giới hạn "van" bất động sản, ngân hàng "vượt rào" sẽ bị trừ room

Thanh khoản căng đẩy lãi suất tăng cao, nhưng không chỉ toàn rủi ro

Đánh giá về mặt bằng lãi suất 2026, ông Cao Việt Hùng - Giám đốc Phân tích ngành Dịch vụ Tài chính Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, chênh lệch âm kéo dài giữa lãi suất VND và lãi suất USD trong thời gian dài không thu hút được nguồn tiền gửi của các doanh nghiệp FDI, từ đó dẫn đến tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng.

Lãi suất huy động từ dân cư và tổ chức kinh tế trên thị trường 1 đã tăng 0,7 điểm phần trăm lên gần 5% đối với kỳ hạn 6 tháng kể từ cuối quý III/2025.

"Năm 2026, chúng tôi dự báo lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng có thể được giữ quanh mức 5% - cao hơn 1% so với giai đoạn thấp trong 9 tháng 2025" - ông Hùng đánh giá.

Làm rõ thêm những nguyên nhân gây căng thẳng thanh khoản toàn hệ thống, theo ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc Khối Nghiên cứu và Phát triển khách hàng cá nhân của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam chỉ rõ, tăng trưởng tín dụng bắt đầu tăng rất mạnh từ quý III/2025.

Trong đó, dòng vốn chủ yếu chảy vào lĩnh vực đầu tư công, chiếm tỷ trọng tương đối lớn; tín dụng bất động sản cũng tăng tốc trở lại vào cuối năm, đặc biệt trong quý IV/2025, khiến áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt.

"Một số ngân hàng, ghi nhận tăng trưởng tín dụng vào bất động sản chiếm tỷ trọng khá cao. Đây là một trong những nguyên nhân chính khiến nhu cầu tín dụng tăng mạnh, trong khi nguồn huy động chưa kịp bổ sung tương ứng" - ông Minh phân tích.

Bên cạnh đó, năm nay còn xuất hiện một thay đổi quan trọng ở phía huy động vốn. "Nguồn vốn đầu vào của các ngân hàng trở nên eo hẹp hơn, do các ngân hàng hầu như không huy động được vốn từ trái phiếu quốc tế, mà phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn vốn trong nước bằng VND qua các kênh: tiền gửi dân cư, tiền gửi doanh nghiệp và thị trường liên ngân hàng" - chuyên gia Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tuy nhiên, theo ông Minh, tiền gửi từ khối doanh nghiệp bắt đầu suy giảm từ quý III/2025, với khả năng cao dòng tiền này chuyển sang các kênh đầu tư khác như: vàng, đầu tư tài sản, một phần “chạy” vào sản xuất kinh doanh, khiến nguồn tiền gửi doanh nghiệp bị thu hẹp đáng kể.

Sóng tăng lãi suất thử thách ngành ngân hàng năm 2026

Dù căng thẳng đẩy lãi suất lên cao, song theo chuyên gia Chứng khoán ACBS, cùng với việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất đồng USD xuống 3,6% đã tạo chênh lệch dương giữa lãi suất VND - USD, giúp dòng vốn nước ngoài quay trở lại và thanh khoản hệ thống ngân hàng ổn định hơn trong thời gian tới.

"Việc giữ mặt bằng lãi suất ở mức tương đối hấp dẫn còn giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng cường dự trữ ngoại hối, hiện đang ở mức khá mỏng khoảng 80 tỷ USD so với mức khuyến nghị tương đương 3 tháng nhập khẩu khoảng 110 tỷ USD" - ông Cao Việt Hùng nhìn nhận.

Theo ghi nhận, mặt bằng lãi suất cho vay tăng mạnh khoảng 2 - 3% trong thời gian gần đây làm giảm nhu cầu vay vốn, chi phí huy động vốn tăng nhanh hơn lãi suất cho vay có thể gây sức ép lên NIM và làm chậm tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất cao hơn cũng giúp ngân hàng cải thiện khả năng huy động vốn, ổn định thanh khoản và củng cố an toàn hệ thống trong trung hạn.

Trước ba "lực cản", vẫn kỳ vọng lợi nhuận giữ nhịp tăng 17,3%

Trong Báo cáo chiến lược 2026 với tựa đề: "Kiến tạo vị thế" mới phát hành, Phòng phân tích và chiến lược thị trường Chứng khoán ACBS cho rằng, năm 2026 được dự báo sẽ là một năm thách thức hơn đối với ngành ngân hàng.

Trong đó, thử thách đến từ nền lãi suất huy động đang tăng trở lại từ cuối năm 2025. Cùng với đó, trong khi động lực tăng chủ yếu của năm 2025 là bất động sản dự kiến có dấu hiệu giảm tốc. Một số cảnh báo về tăng trưởng tín dụng "nóng" dẫn tới quan điểm thận trọng hơn của Ngân hàng Nhà nước với mục tiêu tăng trưởng tín dụng của toàn ngành.

Tuy nhiên, mục tiêu xuyên suốt của Chính phủ vẫn là mức tăng trưởng GDP 10%, vì vậy, nhóm phân tích cho rằng, tăng trưởng tín dụng toàn ngành vẫn sẽ đạt khoảng 16% trong năm 2026. Trong đó, những ngân hàng nằm trong danh mục phân tích vẫn duy trì được đà tăng trưởng tín dụng 19,1% (ước tăng 2025 ở mức 19,3%).

Theo đó, nhóm ngân hàng thương mại có vốn nhà nước tiếp tục hưởng lợi từ cho vay đầu tư công. Nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn tập trung vào phân khúc dự án bất động sản. Còn nhóm ngân hàng cho vay bán lẻ tiếp tục mở rộng tệp khách hàng, đồng thời ứng dụng công nghệ để cải tiến quy trình hoạt động.

Sóng tăng lãi suất thử thách ngành ngân hàng năm 2026
"Chúng tôi dự báo lợi nhuận trước thuế 2026 của các ngân hàng trong danh mục phân tích tăng trưởng 17,3% so với cùng kỳ, cao hơn so với mức tăng trưởng ước tính 15,9% của năm 2025, nhờ tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng duy trì tương đương năm ngoái 19,1%, nhưng đà giảm của NIM (biên lãi ròng) dừng lại" - nhóm phân tích Chứng khoán ACBS đánh giá.

Đánh giá xu hướng NIM năm 2026, Chứng khoán ACBS cho rằng, đà giảm NIM đã chậm lại trong hai quý gần nhất và nhiều khả năng sẽ cải thiện trong quý IV/2025 khi các ngân hàng sử dụng hết room tín dụng và lãi suất cho vay tăng mạnh.

Vì vậy, năm 2026 dự báo NIM đi ngang so với năm 2025 nhưng có sự phân hoá, trong đó nhóm ngân hàng quốc doanh có triển vọng cải thiện NIM tăng khoảng 10 điểm cơ bản so với năm 2025 nhờ lãi suất cho vay đã tăng mạnh từ nền thấp trong quý IV/2025. Trong khi đó, lãi suất huy động không chịu áp lực tăng quá nhiều do lợi thế trong đấu thầu các khoản tiền gửi lớn của Kho bạc Nhà nước.

"Còn nhóm ngân hàng tư nhân dự báo NIM giảm nhẹ do lãi suất huy động tăng cao trong khi lãi suất cho vay duy trì ở mức cao 7 - 9% và khó tăng mạnh trong thời gian dài vì sẽ làm giảm nhu cầu tín dụng" - ACBS nhìn nhận.

Đóng góp chính vào mức tăng trưởng lợi nhuận này đến từ nhóm ngân hàng có vốn nhà nước với mức tăng 12,1%, giảm nhẹ so với mức tăng dự kiến 13,4% năm 2025, chủ yếu do mức tăng trưởng cao khoảng 30% của VietinBank trong năm 2025. Nhóm phân tích ACBS đánh giá Vietcombank, VietinBank có triển vọng cải thiện nhẹ NIM từ vùng đáy thấp và thu hút dòng vốn nước ngoài khi thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng tư nhân tăng 22%, cải thiện so với mức tăng dự kiến 18,3% năm 2025. Trong nhóm này, MBVPBank có triển vọng tăng trưởng lợi nhuận nổi bật nhờ tăng trưởng tín dụng cao và áp lực trích lập dự phòng giảm bớt, còn Sacombank có triển vọng cải thiện hiệu quả hoạt động sau khi kiện toàn ban lãnh đạo mới.

Một trong những thách thức khác với ngành ngân hàng được nhóm phân tích ACBS chỉ rõ, đó là tỷ trọng cho vay lĩnh vực bất động sản (mua nhà và kinh doanh bất động sản) chiếm khoảng 24%, trong đó, một số ngân hàng có tỷ lệ tập trung cho vay bất động sản ở mức cao, vì vậy, sẽ nhạy cảm với các biến động của thị trường bất động sản vốn đang được định giá khá cao./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150 ▲200K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▲200K
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▲1645K 16,752 ▲16752K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▲1645K 16,753 ▲16753K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▲164K 167 ▲167K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▲164K 1,671 ▲1671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▲162K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▲157361K 163,861 ▲163861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▲115387K 124,287 ▲124287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▲103801K 112,701 ▲112701K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▲92215K 101,115 ▲101115K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▲87746K 96,646 ▲96646K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▲6027K 6,917 ▲6917K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cập nhật: 08/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18492 18768 19347
CAD 18741 19019 19635
CHF 33163 33549 34194
CNY 0 3827 3919
EUR 30325 30599 31627
GBP 35003 35397 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15373 15963
SGD 20207 20491 21014
THB 732 795 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80