Có cơ chế chống trục lợi ưu đãi lãi suất dự án xanh, đề xuất hỗ trợ qua địa phương

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang gấp rút hoàn thiện dự thảo Nghị định về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách cho các dự án xanh, dự kiến trình trong tháng 12/2025. Dự thảo bổ sung quy định siết trục lợi chính sách và đổi mới phương thức hỗ trợ qua địa phương thay cho ngân hàng như trước.
aa

Tín dụng xanh chờ cú hích từ chính sách hỗ trợ lãi suất 2%

Tăng trưởng tín dụng xanh "đuối" dần Tín dụng xanh tăng 21%/năm nhưng nhiều ngân hàng vẫn đứng ngoài cuộc

Ngày 10/9, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Ngọc Cảnh chủ trì cuộc họp Tổ soạn thảo xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước cho các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn tại các ngân hàng thương mại để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).

Có cơ chế chống trục lợi ưu đãi lãi suất dự án xanh, đề xuất hỗ trợ qua địa phương
Có cơ chế chống trục lợi ưu đãi lãi suất dự án xanh, đề xuất hỗ trợ qua địa phương. Ảnh minh hoạ.

Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thống đốc Nguyễn Ngọc Cảnh nhấn mạnh, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW, một trong “bộ tứ trụ cột” về thể chế, nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên phát triển mới. Nghị quyết này đề ra 8 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hỗ trợ, thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, trong đó có các cơ chế ưu đãi về tín dụng.

Tại Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước xây dựng và trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước cho doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh vay vốn tại các ngân hàng thương mại để triển khai các dự án xanh, tuần hoàn, áp dụng khung tiêu chuẩn ESG, hoàn thành trong năm 2025.

Theo kế hoạch xây dựng Nghị định, dự kiến trong tháng 12, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ ban hành Nghị định. Sau khi Nghị định được ban hành, Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn các ngân hàng thương mại cho vay theo chính sách.

“Do Nghị định chủ yếu liên quan đến cơ chế hỗ trợ lãi suất, quá trình ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất, xác định đối tượng, thời gian thực hiện hỗ trợ lãi suất và tổ chức triển khai của các cơ quan, nên Ngân hàng Nhà nước mong muốn các thành viên Tổ soạn thảo, các ngân hàng thương mại có ý kiến trao đổi, tham gia, góp ý để Ngân hàng Nhà nước có cơ sở hoàn thiện gửi xin ý kiến chính thức bằng văn bản đến các bộ, ngành, các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các địa phương, đảm bảo tiến độ thẩm định và trình Chính phủ ban hành theo kế hoạch” - Phó Thống đốc nêu rõ.

Theo lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), trên cơ sở ý kiến đóng góp của các thành viên Tổ soạn thảo, Vụ chỉnh sửa, hoàn thiện dự thảo Nghị định gồm 9 điều, quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, điều kiện được hỗ trợ lãi suất, thời hạn và mức lãi suất, nguồn vốn thực hiện, quy trình lập và quyết toán dự toán ngân sách, xử lý thu hồi số tiền đã hỗ trợ, tổ chức triển khai và hiệu lực thi hành.

Đặc biệt, để tránh trục lợi và khuyến khích doanh nghiệp thực hiện đúng cam kết, dự thảo bổ sung quy định nếu khách hàng bị thu hồi xác nhận/không còn trong danh sách các dự án xanh, dự án tuần hoàn, dự án áp dụng khung ESG được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường 01 lần sẽ không thực hiện hỗ trợ lãi suất trong suốt vòng đời dự án. Ngân hàng Nhà nước đề nghị các thành viên Tổ soạn thảo có ý kiến thêm đối với quy định này.

Về thời gian thực hiện chính sách, một số thành viên tổ soạn thảo có ý kiến do đây là chính sách hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước cần có thời gian thực hiện. Theo đó, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế đề xuất, có thể căn cứ Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 về Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050, để quy định thời gian thực hiện chính sách đối với các khoản giải ngân đến hết năm 2030.

Về phương thức hỗ trợ, dự thảo đề xuất đổi mới theo hướng ngân sách nhà nước phân bổ qua địa phương, ủy ban nhân dân cấp xã sẽ trực tiếp hỗ trợ cho khách hàng đủ điều kiện thay vì thông qua ngân hàng thương mại như các chương trình trước đây./.

Thống kê cho thấy, tính đến cuối tháng 6/2025 đã có 63 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với dư nợ đạt trên 736 nghìn tỷ đồng, tăng 8,35% so với cuối năm 2024, chiếm tỷ trọng 4,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm hơn 39%) và nông nghiệp xanh (trên 26%). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh đã chậm lại, so với mức trên 20%/năm giai đoạn 2017 đến nay./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

Lợi nhuận quý II của Techcombank chạm đỉnh mới từ động lực tăng trưởng đa chiều

(TBTCO) - Ngày 21/7/2026, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank, mã CK: TCB, sàn HOSE) công bố kết quả hoạt động kinh doanh quý II và 6 tháng đầu năm 2026 với những con số nổi bật. Khép lại nửa đầu năm, Techcombank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 18,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, quý II là tâm điểm bứt phá khi thiết lập mức đỉnh mới về lợi nhuận.
VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

VBI nỗ lực kiến tạo giá trị mới từ vai trò đối tác quản trị rủi ro

(TBTCO) - Thị trường nhiều biến động cùng sự xuất hiện của các loại hình rủi ro mới đang dần tái định hình vai trò của ngành bảo hiểm: từ đơn vị cung cấp sản phẩm trở thành đối tác đồng hành quản trị rủi ro. Với định hướng đó, Bảo hiểm VietinBank – VBI đang từng bước kiến tạo những giá trị mới cho khách hàng, được bảo chứng bằng những nỗ lực tăng trưởng tích cực, đổi mới sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2026.
Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

Nới room tín dụng đúng địa chỉ, không đánh đổi chất lượng cho vay

(TBTCO) - Hơn 1,4 triệu tỷ đồng được "bơm" vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, đưa dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 20 triệu tỷ đồng, tăng 7,73%. Trước nhu cầu vốn lớn, Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu nới cơ chế quản lý room tín dụng, nhưng khẳng định không hạ chuẩn cho vay và các tổ chức tín dụng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng tín dụng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 21/7: Vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 20 USD/ounce, lấy lại mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 1,5 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp.
Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

Ngân hàng MBV thông báo thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm Chi nhánh Sài Gòn và Phòng giao dịch Thanh Hà.
MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

(TBTCO) - Tỷ giá USD/VND cũng bắt đầu rục rịch tăng trở lại sau 2 tháng ổn định, tỷ giá trung tâm tăng 0,3% so với cuối tháng trước và đầu năm. MBS dự báo tỷ giá sẽ dao động trong khoảng 26.800 - 27.000 VND/USD cuối năm 2026, tương ứng tăng 2 - 2,8% so với đầu năm, do đồng USD mạnh lên và thặng dư thương mại thu hẹp.
Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 20/7: Vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce, lùi xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng trong nước đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng ở ngưỡng 142,5 - 147,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

Ngân hàng đồng hành doanh nghiệp trước "biến số" tỷ giá cuối năm

(TBTCO) - Tỷ giá USD ổn định trong nửa đầu năm, nhưng biến động các ngoại tệ khác vẫn tác động trái chiều đến doanh nghiệp. Trước nhiều "biến số" ảnh hưởng tỷ giá cuối năm, các ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp chủ động quản trị rủi ro tỷ giá, thay vì chỉ ứng phó biến động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 0 0
Kim TT/AVPL 0 0
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG - -
Nguyên Liệu 99.99 0 0
Nguyên Liệu 99.9 0 0
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ -137,000 -142,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▲600K 145,800 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲60K 14,700 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▲100K 14,700 ▲100K
NL 99.99 13,200 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲200K
Trang sức 99.9 13,890 ▲100K 14,590 ▲100K
Trang sức 99.99 13,900 ▲100K 14,600 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1290K 14,702 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1290K 14,703 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,461 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▲6K 144 ▼1290K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▲122076K 142,574 ▲128376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▲450K 108,161 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼79044K 9,808 ▼87864K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲366K 87,999 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼66530K 8,411 ▼75350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▲250K 60,204 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1290K 147 ▼1317K
Cập nhật: 22/07/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18190 18763
CAD 18143 18419 19032
CHF 31763 32144 32778
CNY 0 3849 3941
EUR 29412 29633 30708
GBP 34451 34842 35771
HKD 0 3229 3431
JPY 154 158 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15040 15630
SGD 19850 20132 20709
THB 695 758 811
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26156 26516
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,507 29,531 30,939
JPY 156.94 157.22 166.7
GBP 34,601 34,695 35,891
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,318 18,377 19,054
CHF 31,989 32,088 33,024
SGD 19,956 20,018 20,800
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,290 3,300 3,439
KRW 16.4 17.1 18.6
THB 743.65 752.83 805.44
NZD 15,004 15,143 15,592
SEK - 2,666 2,761
DKK - 3,947 4,086
NOK - 2,688 2,783
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.86 - 6,784.43
TWD 734.98 - 890.28
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,260 88,579
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,464 29,582 30,774
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,845 31,973 32,898
JPY 157.29 157.92 165.78
AUD 18,108 18,181 18,779
SGD 20,029 20,109 20,699
THB 761 764 800
CAD 18,333 18,407 18,984
NZD 15,102 15,647
KRW 17.03 18.87
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26515
AUD 18092 18192 19114
CAD 18319 18419 19430
CHF 31995 32025 33611
CNY 3829.9 3854.9 3990.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34745 34795 36556
HKD 0 3355 0
JPY 157.93 158.43 168.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15145 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19998 20128 20860
THB 0 724.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,153 26,203 26,523
USD20 26,153 26,203 26,523
USD1 23,997 26,203 26,523
AUD 18,192 18,292 19,399
EUR 29,427 29,527 31,185
CAD 18,323 18,423 19,728
SGD 20,107 20,257 20,817
JPY 158.83 160.33 165.86
GBP 34,741 34,891 35,956
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/07/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80