Kinh tế quý III/2025: Sát kịch bản nhưng không thể chủ quan

Hoàng Yến
(TBTCO) - Dù kinh tế toàn cầu biến động khó lường, nhiều yếu tố bất lợi gia tăng, Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực trong quý III và 9 tháng, bám sát kịch bản mục tiêu tăng trưởng 8%. Song để đạt trọn vẹn mục tiêu đề ra của cả năm vẫn đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm không ngừng nghỉ trong những tháng cuối năm.
aa

Công nghiệp và sản xuất giữ nhịp tăng trưởng

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong quý III và tháng 9/2025, tăng trưởng kinh tế vẫn đạt mức cao. Sản xuất, kinh doanh, các động lực tăng trưởng tiếp tục được thúc đẩy và làm mới, nhờ đó giữ vững đà tăng trưởng tích cực.

Đi vào các con số cụ thể, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) quý III tăng 10%, cao hơn quý I (8,3%) và quý II (9,3%). Công nghiệp khai khoáng phục hồi mạnh, tăng 22,4% trong tháng 9, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo duy trì tốc độ hai con số là 10,4%.

Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 9 đạt 50,4 điểm, đơn hàng mới tăng trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 9,5%, phản ánh sức mua trong nước cải thiện. Khách quốc tế đạt trên 15,4 triệu lượt, tăng 21,5% so với cùng kỳ.

Kinh tế quý III/2025: Sát kịch bản nhưng không thể chủ quan
Nguồn: Bộ Tài chính Đồ họa: Phương Anh

Đặc biệt, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đạt 679 tỷ USD, tăng 17,1%. Xuất khẩu đạt 348,1 tỷ USD (tăng 15,8%), xuất siêu 17,16 tỷ USD, là mức cao so với nhiều năm gần đây.

Trong đầu tư, vốn đầu tư toàn xã hội quý III tăng 13,3%, 9 tháng tăng 11,6%. Đáng chú ý, vốn FDI đăng ký đạt 28,5 tỷ USD, tăng 15,2%); vốn thực hiện đạt 18,8 tỷ USD, tăng 8,5%.

Thu ngân sách 9 tháng đạt 1,92 triệu tỷ đồng, trên 96% dự toán, tăng 30,5%. Trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) tăng tới 35,1%, phản ánh nền kinh tế phục hồi thực chất. Cơ cấu thu được đánh giá bền vững hơn, khi tỷ trọng thu từ sản xuất kinh doanh chiếm hơn 43% tổng thu nội địa, tăng 17,6% trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí… khoảng 200.000 tỷ đồng.

Số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong 9 tháng đạt trên 231.000, tăng 26,4%. Tổng số vốn bổ sung từ các doanh nghiệp đang hoạt động đạt 3,3 triệu tỷ đồng, tăng tới 186,5%. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường chỉ tăng 6,8%, mức thấp nhất từ năm 2021.

Nhiều địa phương tăng trưởng trên 10%

Thực hiện Nghị quyết số 226/NQ-CP của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng các ngành, lĩnh vực, địa phương và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để bảo đảm tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8,3 - 8,5%, các bộ, cơ quan, địa phương đã quyết liệt triển khai, đạt kết quả rõ nét các mục tiêu, chỉ tiêu được giao. Các chỉ tiêu tăng trưởng của ngành, lĩnh vực tiếp tục đạt kết quả tích cực.

Theo đó, có 16/34 địa phương tăng trưởng GRDP 9 tháng đạt từ 8% trở lên, trong đó Hà Nội tăng 7,92% so với cùng kỳ,

TP. Hồ Chí Minh tăng 7,07% (nếu trừ dầu khí tăng 7,69%). Có 6 địa phương tăng trưởng trên 10% gồm: Quảng Ninh 11,67%, Hải Phòng 11,59%, Phú Thọ 10,22%, Ninh Bình 10,45%, Bắc Ninh 10,12%, Quảng Ngãi 10,15%.

Những kết quả tích cực này thể hiện nỗ lực của cả hệ thống chính trị thời gian qua để hoàn thành khối lượng công việc rất lớn, tập trung cao độ nhằm “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, bất chấp những nhiều yếu tố bất lợi đang gia tăng từ bên ngoài.

Đó cũng là lý do nhiều tổ chức trong và ngoài nước gần đây đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam lên mức khả quan hơn. Báo cáo Kinh tế vĩ mô tháng 9 của Khối Nghiên cứu thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán MBS dự báo tăng trưởng GDP quý III/2025 ở mức 8,6% - 8,9%.

Ngày 17/9, Bộ phận nghiên cứu thị trường và kinh tế toàn cầu của Ngân hàng UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP cả năm của Việt Nam lên 7,5%. Theo các chuyên gia UOB, bất chấp rủi ro và bất ổn từ thuế quan, nền kinh tế Việt Nam vẫn thể hiện khả năng chống chịu và tính năng động.

Mới đây nhất, trong báo cáo công bố ngày 30/9, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã nâng dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2025 từ 6,6% lên 6,7%. Đây là mức điều chỉnh nhẹ, nhưng mang tính tích cực, phản ánh sức bật mạnh mẽ trong nửa đầu năm khi GDP đạt 7,5% - cao nhất kể từ năm 2010.

Theo nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh (HUB), mặc dù kinh tế nửa cuối năm vẫn đối mặt tình trạng bất ổn và những diễn biến tâm lý không thuận lợi, song Việt Nam có những "đòn bẩy chiến lược" là "bộ tứ trụ cột", gồm các Nghị quyết 57, 59, 66 và 68.

Động lực tăng trưởng nửa cuối năm đến từ đầu tư, tiêu dùng và tác động của chính sách tiền tệ và tài khóa toàn cầu. Trong đó, đầu tư công tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt. FDI vẫn duy trì nhờ lợi thế địa chính trị, cải cách chính sách và các hiệp định thương mại tự do. Đặc biệt, nhóm chuyên gia HUB dự đoán đầu tư tư nhân "sẽ tăng mạnh, đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng".

Điều này là nhờ niềm tin môi trường kinh doanh cải thiện, các chính sách hỗ trợ về thuế và tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư vào các ngành trọng điểm. Xu hướng chuyển dịch đầu tư vào công nghệ cao, số hóa và năng lượng tái tạo cũng góp phần kích thích vốn tư nhân chảy mạnh hơn vào nền kinh tế.

Giải ngân đầu tư công 100% là thách thức lớn

Tuy vậy, theo nhận định của Bộ Tài chính, nhiệm vụ tăng trưởng năm 2025 còn nhiều khó khăn, kinh tế vĩ mô chịu nhiều sức ép từ bên ngoài. Mục tiêu xuất siêu 30 tỷ USD năm 2025 rất thách thức khi chính sách thuế quan của Mỹ khó lường, nhu cầu thế giới chậm lại, đơn hàng mới giảm.

Trong khi đó, dù vốn FDI thực hiện tăng, nhưng vốn FDI đăng ký mới 9 tháng chỉ đạt 12,4 tỷ USD, giảm 8,6% so với cùng kỳ. Điều này phản ánh áp lực cạnh tranh thu hút vốn giữa các quốc gia trong khu vực. Đầu tư tư nhân trong nước cũng chưa được như kỳ vọng, nguồn lực đầu tư của doanh nghiệp nhà nước chưa thực sự được phát huy.

Quá trình hoàn thiện pháp luật, thể chế vẫn chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Việc triển khai mô hình chính quyền 2 cấp ở một số địa phương phát sinh bất cập, nhưng xử lý còn chậm. Đây là những vấn đề mà nhiều chuyên gia cảnh báo nếu không khắc phục sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý và thực thi chính sách.

Trong quý còn lại của năm, Chính phủ xác định rõ nhiều nhiệm vụ cụ thể cần tập trung làm ngay, với các trọng tâm là giải ngân đầu tư công, thúc đẩy xuất khẩu và hoàn thiện thể chế.

Đến hết tháng 9, giải ngân vốn đầu tư công đạt 454.500 tỷ đồng, bằng 51,4% kế hoạch - cao hơn cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn còn xa mục tiêu 100%. Bên cạnh nguyên nhân do tổ chức thực hiện, vẫn còn vướng mắc trong quy định pháp luật. Do đó, Bộ Tài chính kiến nghị khẩn trương trình cấp có thẩm quyền Nghị quyết để tháo gỡ vướng mắc trong Luật Đất đai 2024 để đẩy nhanh tái định cư, giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư công.

Để đẩy mạnh xuất khẩu, Bộ Công thương và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai các phương án đàm phán với Hoa Kỳ, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, đẩy mạnh hợp tác để mở rộng thị trường…

Các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tập trung tháo gỡ các quy định chồng chéo, vướng mắc, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Qua đó, thúc đẩy đầu tư tư nhân, phát triển các động lực tăng trưởng mới.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80