Gỡ nút thắt mở tài khoản, mở đường đón vốn ngoại sau nâng hạng thị trường

Ánh Tuyết
(TBTCO) - FTSE Russell chính thức công bố thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp - một cột mốc giới đầu tư chờ đợi nhiều năm. Cùng cải cách pháp lý lĩnh vực chứng khoán, trong ngành ngân hàng, việc gỡ "nút thắt" mở tài khoản thanh toán và tài khoản đầu tư vốn gián tiếp cũng góp phần mở rộng cánh cửa đón dòng vốn ngoại.
aa

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được nâng hạng lên mới nổi thứ cấp

Kỳ vọng làn gió mới từ bước chuyển nâng hạng
Tái cấu trúc nhà đầu tư mở đường cho nâng hạng thị trường chứng khoán

Sáng sớm ngày 8/10/2025, FTSE Russell chính thức công bố thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng toàn bộ các tiêu chí chính thức và được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.

Gỡ vướng mở tài khoản

Trước thời khắc quan trọng này, có thể thấy nỗ lực không ngừng từ phía các cơ quan quản lý. Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, cùng các đơn vị liên quan phối hợp chặt chẽ, liên tục hoàn thiện khung khổ pháp lý và hạ tầng thị trường. Hàng loạt văn bản quan trọng được ban hành, sửa đổi nhằm gỡ bỏ các rào cản, nâng dần tính minh bạch và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.

Gỡ nút thắt mở tài khoản, mở đường đón vốn ngoại sau nâng hạng thị trường
Gỡ nút thắt mở tài khoản, mở đường đón vốn ngoại sau nâng hạng thị trường. Ảnh minh hoạ.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 03/2025/TT-NHNN quy định về việc mở và sử dụng tài khoản bằng đồng Việt Nam (VND) để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Thông tư 03) từ ngày 29/4/2025; Thông tư số 25/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2024/TT-NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Thông tư 25) ban hành ngày 31/8/2025. Các quy định này cho phép nhà đầu tư nước ngoài mở tài khoản một cách đơn giản, rút ngắn thời gian thủ tục, giúp vốn ngoại lưu thông thuận lợi và minh bạch hơn.

Chia sẻ với phóng viên, đại diện Ngân hàng Shinhan Việt Nam đánh giá tích cực về những sửa đổi tại Thông tư 03 và Thông tư 25, đặc biệt với khối nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Theo ghi nhận, trước đây, việc mở tài khoản thanh toán và tài khoản vốn đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đầu tư gián tiếp tại Việt Nam được quản lý rất chặt chẽ, đặc biệt liên quan đến quy định hợp pháp hóa lãnh sự và xác thực hồ sơ. Điều này gây ra khó khăn, mất nhiều thời gian cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp cận đầu tư vào thị trường Việt Nam.

Trong vai trò là ngân hàng lưu ký, cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản cho nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các quỹ đến từ Hàn Quốc và các định chế đầu tư toàn cầu khác, Shinhan Bank nhận được phản hồi tích cực của nhà đầu tư nước ngoài về các quy định mới của Ngân hàng Nhà nước trong việc hỗ trợ thúc đẩy hoạt động đầu tư và thúc đẩy dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam.

Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc phân tích Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam cũng đánh giá, hiện quy trình kiểm tra và định danh nhà đầu tư đã được cải thiện đáng kể, nhanh hơn và linh hoạt hơn và cơ bản nới lỏng một số điều kiện, giúp quá trình cấp phép tài khoản vốn gián tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài trở nên thuận lợi hơn.

Thực tế, việc định danh nhà đầu tư nước ngoài là khâu phức tạp và mất nhiều thời gian. Bởi mọi dòng vốn của nhà đầu tư khi vào hoặc rút khỏi Việt Nam đều phải tuân thủ chặt chẽ các quy định pháp luật, đặc biệt là Luật Phòng, chống rửa tiền. Cơ quan chức năng và ngân hàng phải kiểm tra kỹ quốc tịch, đặc biệt là nguồn gốc dòng tiền để đảm bảo không liên quan đến hoạt động phi pháp.

"Quá trình xác minh danh tính, định danh và nguồn gốc dòng tiền của từng nhà đầu tư nước ngoài đòi hỏi nhiều bước kiểm tra nghiêm ngặt, khiến việc cấp phép và mở mã định danh, tài khoản vốn gián tiếp cho nhà đầu tư nước ngoài kéo dài" - ông Minh lý giải.

Ngân hàng đồng hành, hỗ trợ tối đa hút vốn ngoại

Các sửa đổi tại Thông tư 25 và Thông tư 03 không chỉ tháo gỡ vướng mắc lâu nay, mà còn mở ra cánh cửa rộng hơn cho dòng vốn ngoại trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

"Các vướng mắc được tháo gỡ không chỉ tác động trực tiếp đến quy trình, quy định mở tài khoản thanh toán và tài khoản đầu tư gián tiếp mà còn ảnh hưởng tích cực đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn bước đầu tiếp cận để đầu tư vào thị trường Việt Nam" - đại diện Shinhan Bank bày tỏ.

Cụ thể, Thông tư 03 tháo gỡ quy định về số lượng tài khoản đầu tư gián tiếp (IIA). Nhà đầu tư nước ngoài là các quỹ đầu tư, công ty chứng khoán được mở IIA tương ứng với mã số giao dịch chứng khoán được cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho các quỹ đầu tư nước ngoài quản lý tài sản một cách tách biệt, chuẩn hóa và minh bạch dòng tiền.

Trong khi đó, Thông tư 25 bổ sung nhiều quy định tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Đáng chú ý, cho phép nhà đầu tư nước ngoài được ủy quyền mở tài khoản thanh toán tại Việt Nam, không áp dụng quy định hợp pháp hóa lãnh sự với các tài liệu trong hồ sơ mở tài khoản, cho phép ngân hàng sử dụng hệ thống SWIFT trong việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán.

Thủ tục minh bạch và thông thoáng hơn: Động lực mới cho dòng vốn ngoại
Các ngân hàng khẩn trương ban hành chính sách, hướng dẫn riêng dành cho nhà đầu tư nước ngoài khi mở tài khoản thanh toán và tài khoản đầu tư gián tiếp. Ảnh: Shinhan Bank.

Shinhan Bank đã và đang xây dựng những chính sách, hướng dẫn riêng dành cho nhà đầu tư nước ngoài khi mở tài khoản thanh toán và tài khoản đầu tư gián tiếp tại Việt Nam. Theo định hướng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng các cơ quan quản lý và với sự thấu hiểu về chiến lược phát triển của đất nước trong tiến trình hội nhập, Shinhan Bank cam kết triển khai đầy đủ những thay đổi tích cực mà Thông tư 25 và Thông tư 03 mang lại.

"Chúng tôi mong muốn đồng hành cùng nhà đầu tư nươc ngoài, cung cấp dịch vụ chất lượng cao và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình mở và vận hành tài khoản đầu tư gián tiếp tại Việt Nam" - đại diện Shinhan Bank nhấn mạnh.

Ông Gary Harron - Giám đốc Khối Dịch vụ chứng khoán HSBC Việt Nam nhấn mạnh, quyết định công bố nâng hạng là minh chứng cho thấy vị thế quốc tế đang lên của Việt Nam có thể vững vàng vượt qua những sóng gió ngắn hạn.

Việc gỡ bỏ “mác” thị trường cận biên sẽ có sức ảnh hưởng lớn đến hành vi và niềm tin của nhà đầu tư, thay đổi qũy đạo phát triển kinh tế dài hạn của thị trường và giảm sự phụ thuộc vào bất kỳ một đối tác thương mại nào. Bộ phận Nghiên cứu Đầu tư Toàn cầu HSBC dự báo tiềm năng dòng vốn nước ngoài có thể lên đến 3,4 - 10,4 tỷ USD từ các quỹ đầu tư chủ động và thụ động sau khi nâng hạng./.

"Từ kinh nghiệm làm việc với các quỹ quốc tế, chúng tôi nhận thấy nhà đầu tư nước ngoài rất coi trọng môi trường chính trị ổn định, hạ tầng giao dịch hiện đại và thanh toán nhanh chóng, khung pháp lý rõ ràng, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, sản phẩm đầu tư đa dạng. Ngoài cổ phiếu, nhà đầu tư rất quan tâm đến sản phẩm phái sinh, chứng chỉ quỹ ETF, trái phiếu doanh nghiệp... Đây chính là các yếu tố then chốt để các nhà đầu tư yên tâm hoạch định chiến lược dài hạn cho thị trường Việt Nam.

Các cải cách gần đây như đơn giản hóa thủ tục hành chính, kết nối ngân hàng - chứng khoán, chuẩn hóa tài khoản giao dịch và tăng cường tính minh bạch thông tin. Khi các rào cản kỹ thuật tháo gỡ, dòng vốn nước ngoài sẽ dễ dàng lưu chuyển và ở lại lâu dài hơn" - đại diện Shinhan Bank nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80